Chào mừng quý vị đến với Trang tư liệu giáo dục THÀNH PHỐ HÀ TĨNH.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
CÁC YẾU TỐ NHO, ĐẠO, PHẬT TRONG TÁC PHẨM CHIẾU DỜI ĐÔ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thanh Nga
Ngày gửi: 01h:51' 02-03-2018
Dung lượng: 10.1 KB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thanh Nga
Ngày gửi: 01h:51' 02-03-2018
Dung lượng: 10.1 KB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
Các yếu tố Nho, Phật, Đạo và tư tưởng thân dân trong “Chiếu dời đô”
Việc Lý Công Uẩn quyết định dời đô không chỉ là noi gương những vị vua sáng thời trước mà là “trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi”. Nhận định này thể hiện sự tiếp biến tư tưởng Nho, Phật, Đạo và thông qua đó thể hiện chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc.
Việc dẫn tư tưởng “mệnh trời” cho thấy Lý Công Uẩn chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Mệnh trời trong quan niệm của Nho giáo có nghĩa là mệnh lệnh của ông trời mang nhân cách nhưng cũng có nghĩa là quy luật, sự tất yếu khách quan buộc con người phải tuân theo trong sự nhận thức thấu đáo và tự tin. Trong “Thiên đô chiếu”, “mệnh trời” được hiểu theo nghĩa thứ hai. Lý Công Uẩn đã dùng tư tưởng “mệnh trời” với ngụ ý là dời đô là việc tất yếu, có dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La thì mới có điều kiện làm cho triều đại vững bền, đất nước hưng thịnh. Nói cách khác, dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long không chỉ nói lên vẻ đẹp thiên nhiên của nó, mà điều quan trọng là thể hiện được nó có đủ điều kiện thuận lợi của một đế đô trong một quốc gia độc lập và hưng thịnh. Ở đây, tư tưởng của Lý Công Uẩn chịu ảnh hưởng thuật phong thủy của Đạo giáo. “Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”[2].
Như vậy, Lý Công Uẩn đã nhìn nhận thấy rõ Thăng Long chính là đầu mối của sợi dây liên hệ thống nhất về mặt kinh tế, văn hóa và lãnh thổ làm cơ sở cho việc dựng và giữ nước. Cho nên, việc Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long đã thực sự góp phần củng cố sự thống nhất quốc gia, làm cho chính quyền trung ương ngày càng thêm uy lực để cai quản các địa phương trong cả nước.
Bên cạnh đó, dời đô còn là vì dân để “dân cư khỏi phải chịu cảnh khốn khổ, ngập lụt”. Đó là tư tưởng giải thoát chúng sinh, đại từ bi của đạo Phật, theo cách nói hiện đại là “vì nước, vì dân”. Ở đây, tư tưởng thân dân của Nho giáo và tình yêu thương con người của Phật giáo được thể hiện rất rõ ràng. Chiếu rời đô đã chỉ rõ: “Nhà Đinh, nhà Lê lại theo lòng riêng…, yên ở nơi quê quán… Trẫm rất xót thương, không thể không dời đi nơi khác”. Qua đó cho thấy, theo Lý Công Uẩn việc nhà Đinh, Lê đóng đô ở Hoa Lư là vì “theo lòng riêng”, chứ chưa vì lợi ích chung của nhân dân, nên loạn lạc đã xảy ra ngay từ trong nội tộc, nội triều thống trị.
Lý Công Uẩn không chỉ nói tới dân, mà còn nói tới ý chí của dân. Dùng khái niệm “dân chí” là có ẩn ý bên trong. Cùng một loạt các khái niệm về dân, có các khái niệm: dân tâm, dân vọng và dân chí. Dân tâm là lòng dân, nhưng lòng dân có lúc thế này, lúc thế khác. Dân vọng là sự mong mỏi của dân, thường là sự mong mỏi của dân muốn bề trên biết đến đời sống khổ cực của dân. Còn dân chí là ý chí của dân dựa trên sự hiểu biết của dân, có ý nghĩa về mặt nhận thức luận.
Như vậy, kế thừa các yếu tố tư tưởng của Nho, Phật, Đạo trong sự kết hợp nhuẫn nhuyễn với tinh thần truyền thống của dân tộc, Lý Công Uẩn đã luận chứng được việc dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long là một tất yếu khách quan, đáp ứng yêu cầu thực tế của công cuộc dựng nước và phù hợp với xu thế của lịch sử. Việc dời đô không chỉ là nguyện vọng của vua mà chính là nguyện vọng của cả dân tộc, để cho nước nhà được thịnh vượng, nhân dân được no ấm, yên vui. Chính vì thế, việc dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long được tất cả thần dân đồng lòng ủng hộ.
“Chiếu dời đô” đã nêu lên mối quan hệ mật thiết giữa đế đô và tiền đồ của triều đại, của đất nước; nêu lên những yếu tố cần thiết làm tiêu chí của đế đô của một nước; nhấn mạnh tư tưởng về hành động chính trị phải căn cứ vào xu hướng phát triển của sự việc và ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Việc nhà Đinh, nhà Lê chọn Hoa Lư, nơi hiểm trở để làm đế đô là hợp lý đối với hoàn cảnh lịch sử lúc đó đất nước vừa mới giành được độc lập sau một nghìn năm bị thế lực phương Bắc đô hộ,
Việc Lý Công Uẩn quyết định dời đô không chỉ là noi gương những vị vua sáng thời trước mà là “trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi”. Nhận định này thể hiện sự tiếp biến tư tưởng Nho, Phật, Đạo và thông qua đó thể hiện chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc.
Việc dẫn tư tưởng “mệnh trời” cho thấy Lý Công Uẩn chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Mệnh trời trong quan niệm của Nho giáo có nghĩa là mệnh lệnh của ông trời mang nhân cách nhưng cũng có nghĩa là quy luật, sự tất yếu khách quan buộc con người phải tuân theo trong sự nhận thức thấu đáo và tự tin. Trong “Thiên đô chiếu”, “mệnh trời” được hiểu theo nghĩa thứ hai. Lý Công Uẩn đã dùng tư tưởng “mệnh trời” với ngụ ý là dời đô là việc tất yếu, có dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La thì mới có điều kiện làm cho triều đại vững bền, đất nước hưng thịnh. Nói cách khác, dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long không chỉ nói lên vẻ đẹp thiên nhiên của nó, mà điều quan trọng là thể hiện được nó có đủ điều kiện thuận lợi của một đế đô trong một quốc gia độc lập và hưng thịnh. Ở đây, tư tưởng của Lý Công Uẩn chịu ảnh hưởng thuật phong thủy của Đạo giáo. “Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”[2].
Như vậy, Lý Công Uẩn đã nhìn nhận thấy rõ Thăng Long chính là đầu mối của sợi dây liên hệ thống nhất về mặt kinh tế, văn hóa và lãnh thổ làm cơ sở cho việc dựng và giữ nước. Cho nên, việc Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long đã thực sự góp phần củng cố sự thống nhất quốc gia, làm cho chính quyền trung ương ngày càng thêm uy lực để cai quản các địa phương trong cả nước.
Bên cạnh đó, dời đô còn là vì dân để “dân cư khỏi phải chịu cảnh khốn khổ, ngập lụt”. Đó là tư tưởng giải thoát chúng sinh, đại từ bi của đạo Phật, theo cách nói hiện đại là “vì nước, vì dân”. Ở đây, tư tưởng thân dân của Nho giáo và tình yêu thương con người của Phật giáo được thể hiện rất rõ ràng. Chiếu rời đô đã chỉ rõ: “Nhà Đinh, nhà Lê lại theo lòng riêng…, yên ở nơi quê quán… Trẫm rất xót thương, không thể không dời đi nơi khác”. Qua đó cho thấy, theo Lý Công Uẩn việc nhà Đinh, Lê đóng đô ở Hoa Lư là vì “theo lòng riêng”, chứ chưa vì lợi ích chung của nhân dân, nên loạn lạc đã xảy ra ngay từ trong nội tộc, nội triều thống trị.
Lý Công Uẩn không chỉ nói tới dân, mà còn nói tới ý chí của dân. Dùng khái niệm “dân chí” là có ẩn ý bên trong. Cùng một loạt các khái niệm về dân, có các khái niệm: dân tâm, dân vọng và dân chí. Dân tâm là lòng dân, nhưng lòng dân có lúc thế này, lúc thế khác. Dân vọng là sự mong mỏi của dân, thường là sự mong mỏi của dân muốn bề trên biết đến đời sống khổ cực của dân. Còn dân chí là ý chí của dân dựa trên sự hiểu biết của dân, có ý nghĩa về mặt nhận thức luận.
Như vậy, kế thừa các yếu tố tư tưởng của Nho, Phật, Đạo trong sự kết hợp nhuẫn nhuyễn với tinh thần truyền thống của dân tộc, Lý Công Uẩn đã luận chứng được việc dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long là một tất yếu khách quan, đáp ứng yêu cầu thực tế của công cuộc dựng nước và phù hợp với xu thế của lịch sử. Việc dời đô không chỉ là nguyện vọng của vua mà chính là nguyện vọng của cả dân tộc, để cho nước nhà được thịnh vượng, nhân dân được no ấm, yên vui. Chính vì thế, việc dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long được tất cả thần dân đồng lòng ủng hộ.
“Chiếu dời đô” đã nêu lên mối quan hệ mật thiết giữa đế đô và tiền đồ của triều đại, của đất nước; nêu lên những yếu tố cần thiết làm tiêu chí của đế đô của một nước; nhấn mạnh tư tưởng về hành động chính trị phải căn cứ vào xu hướng phát triển của sự việc và ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Việc nhà Đinh, nhà Lê chọn Hoa Lư, nơi hiểm trở để làm đế đô là hợp lý đối với hoàn cảnh lịch sử lúc đó đất nước vừa mới giành được độc lập sau một nghìn năm bị thế lực phương Bắc đô hộ,
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓







Các ý kiến mới nhất